• Home
  • DESIGN
  • TRUYỆN
  • NGỮ VĂN
  • LOVE

HƯỜNG ANH NGUYỄN

facebook google twitter tumblr instagram linkedin


Phân tích bài thơ Tây Tiến
I. Tác giả, tác phẩm

Tác giả Quang Dũng
II. Tìm hiểu và phân tích tác phẩm

A. Cảm nhận chung
Tây Tiến là tác phẩm tiêu biểu cho đời thơ Quang Dũng, là bài ca không bao giờ quên – bài ca về người lính cụ Hồ - những con người đã hiến dâng cả cuộc đời cho non song đất nước. Để rồi đến với bài thơ ta nhận ra bức tượng đài nghệ thuật bất hủ về người lính Tây Tiến trên nền thiên nhiên núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở, huyền bí và cũng rất nên thơ nên họa. Tác phẩm được viết bằng cảm hứng lãng mạn nhuốm màu sắc bi tráng nhưng không hề bi lụy.
1/ Bức tranh thiên nhiên núi rừng Tây Bắc và những chặng đường hành quân
a, Hai câu đầu 

Như đứng đống lửa như ngồi đống than

b.Thiên nhiên hùng vĩ.
Mường Lát hoa về trong đêm hơi.
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn.
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Trèo lên tới đỉnh ta cao hơn đèo
2. Đêm văn nghệ và sông nước Châu Mộc
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viêng Chăn xây hồn thơ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Có thấy hồn lau lẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Nhưng sẽ là tất cả nếu lòng người còn ghi
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi
< Chính Hữu>
hay 
Giọt mồ hôi rơi
Trên má anh vàng nghệ
<Tố Hữu>
Từ vẻ bề ngoài kì lạ đầy khác thường ấy ta cứ ngỡ lính TT là những quái đản nhưng thực ra tác giả đã sử dụng triệt để biện pháp đối lập để chỉ ra tâm hồn hào hoa, lịch lãm và rất lãng mạn của lính TT:
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta
Mặt chinh phụ trăng dõi dõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn
Hai mươi tuổi hồn quay trong gió bão
Nào có há chi đâu ngày trở về
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
=> Đánh giá: Đoạn thơ tiêu biểu cho bút pháp tài hoa lãng mạn của QD, thể hiện thành công triệt để hiệu quả thẩm mĩ của nghệ thuật tương phản giữa hình thức và nội tâm, giữa hiện thực khốc liệt và tư thế oai hùng, kết hợp với cách sử dụng từ Hán Việt, cách nói giảm nói tránh, cường điệu hóa, tô đậm những nét phi thường,...Tất cả đã đủ sức tạc dựng lên bức tượng đài nghệ thuật về hình tượng người lính TT tiêu biểu cho hình tượng anh bộ đội cụ Hồ thời kháng chiến chống Pháp. Lính TT cùng với người lính trong thơ Nguyễn Đình Thi, thơ Chính Hữu đã làm nên trang sử hào hùng của dân tộc, làm nên bài ca cuộc đời của những con người biết hi sinh vì Tổ quốc như Tố Hữu viết:
Có cái chết hóa thành bất tử
Có những lời hơn mọi lời ca
Có những người như chân lí sinh ra
Quân đi lớp lớp động cây rừng
Và con người ấy bài thơ ấy
Vẫn sống muôn đời với núi sông.


· Làm thơ, viết văn, vẽ tranh, sáng tác nhạc,… => ông là một nghệ sĩ đa tài.
· Ông trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp
· Phong cách nghệ thuật: thơ Quang Dũng chiếm lĩnh tâm hồn người đọc bởi tâm hồn 
lịch lãm, lãng mạn, tài hoa, phóng khoáng và rất đỗi hồn hậu
Hoàn cảnh ra đời: Tây Tiến là một đơn vị quân đội được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với quân đội Lào chống quân đội của thực dân Pháp. Địa bàn hoạt động của lính Tây Tiến rất rộng, từ tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, miền Tây Thanh Hóa, Sầm Nứa (Lào), trong những hoàn cảnh rất gian khổ, vô cùng thiếu thốn, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội, nhưng họ sống rất lạc quan và chiến đấu dũng cảm. Chiến đấu được một thời gian thì đoàn binh Tây Tiến trở về Hòa Bình->trung đoàn 52, khi ấy Quang Dũng là đại đội trưởng sau đó ông chuyển sang đơn vị khác. Trong nỗi nhớ đồng chí đồng đội đến cồn cào và da diết, tại làng Phù Lưu Chanh ông đã viết bài thơ Tây Tiến (1948)

B. Phân tích


Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Bài thơ cất lên bằng tiếng gọi tha thiết đằm sâu vào tâm hồn người đọc, "Tây Tiến ơi"như chứa đựng cả một bầu trời thương nhớ với bao bâng khuâng hụt hẫng và nuối tiếc. Âm "ơi" như ngân vang ra từ vách đá của núi rừng Tây Bắc, ngân vang trải dài đến đâu mang theo tâm tư tình cảm của Quang Dũng lan ngấm thấm tràn đến đó. Sông Mã, Tây Tiến đã xa rồi, xa cả về không gian lẫn thời gian nhưng những gì thuộc về Tây Tiến vẫn còn sống, neo đậu và khắc tạc nơi sâu thẳm trái tim và cõi lòng nhà thơ. Dòng sông Mã lồng vào tiếng gọi Tây Tiến thể hiện sự gắn bó như không thể tách rời bởi đó là dòng sông đã từng chia ngọt sẻ bùi, cùng Tây Tiến một thời tắm nắng gội mưa và cũng là dòng sông đã từng đưa tiễn người lính trở về đất mẹ. Dường như dòng cảm xúc không thể kìm nén đã bật lên thành nỗi nhớ, từ "nhớ" được láy lại hai lần trong một câu thơ như nốt nhạc trầm trở nặng tâm tư. Nỗi nhớ được cụ thể hóa qua từ láy "chơi vơi" giàu sức gợi cảm, dồn nén cảm xúc, từ "chơi vơi" diễn đạt đến độ chín của nỗi nhớ, nhớ đến đau đáu, dằng dặc, triền miên, nỗi nhớ như những đợt sóng liên tiếp gối đầu nhau vô hổi vô hạn mà cồn cào da diết choáng ngợp cả tâm hồn.Từ "nỗi nhớ" của Quang Dũng gợi ta nhớ về nỗi nhớ của nhân vật trữ tình trong câu ca dao
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Nỗi nhớ trong ca dao là nỗi nhớ của tình yêu, nhớ đến đỏ lòng sốt ruột, còn nỗi nhớ của Quang Dũng là nỗi nhớ dành cho đồng đội cứ chảy trôi đến vô chừng. Từ nỗi nhớ ấy, bức tranh thiên nhiên núi rừng Tây Bắc hùng vĩ hoang sơ cứ dần dần hiện ra.

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Sài Khao, Mường Lát là những địa danh, bản làng xa xôi hẻo lánh mà lính Tây Tiến đã hành quân qua hoặc đã có những phút giây ngơi nghỉ. Dù xa xôi hẻo lánh nhưng nó vẫn cắt hình rõ rệt trong lòng những ai đã một thời sống với Tây Tiến bởi:
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Hơn thế nữa, ngạn ngữ Hi Lạp có câu "mảnh đất lưu giữ được tâm hồn con người thì ở đó chôn cất một người thân hoặc gửi gắm một phần trái tim họ" biết đâu ở những địa danh ấy biết bao đồng chí đồng đội của tác giả đã ngã xuống, cho nên nhớ cũng là lẽ tự nhiên mà thôi.
Sài Khao là mảnh đất lắm sương nhiều khói, sương che lấp đường đi, sương phủ kín bóng người, sương như tấm áo choàng bảng lảng chùm lên con sông, ngọn suối, sườn đèo. Ta nghe đâu đây giữa núi rừng hiểm trở cheo leo có những hơi thở mệt mỏi của những chàng trai đất Hà thành nhọc nhằn trên từng chặng đường hành quân. Thế mà với trái tim nhạy cảm, tình yêu tha thiết với mảnh đất và con người Tây Bắc, họ như nghe từng hơi thở nhịp đập thậm chí là cái khe khẽ trở mình của cỏ cây hoa lá trên đất Mường Lát khi màn đêm buông xuống. Có thể nói Quang Dũng như một phóng viên lia ống kính để mở ra trước mắt người đọc một thước phim về núi rừng hiểm trở mà cheo leo:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Giọng thơ bỗng trở nên gần gũi, dồn dập góp phần nhấn mạnh vào một địa thế hiểm trở đồng thời giúp người đọc cảm nhận được bước chân chắc nịch của người lính hằn in trên sỏi đá. Một loạt những từ láy giàu chất tạo hình "thăm thẳm", "khúc khuỷu", "heo hút" mở ra trước mắt người đọc bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở, núi non trùng trùng điệp điệp. Điệp từ "dốc" láy lại hai lần trong một câu thơ góp phần diễn tả một địa thế cheo leo, dốc sâu vực thẳm, dốc cứ dốc, đèo cứ đèo, núi cao chót vót, vực sâu thăm thẳm khôn cùng. Khi miêu tả thiên nhiên hùng vĩ Quang Dũng sử dụng nhiều thanh trắc phối hợp với giọng thơ rắn rỏi hòa cùng những từ giàu chất tạo hình để Tây Bắc trở thành đỉnh cao của chênh vênh và trở thành mỗi thử thách lớn đối với con người. Vậy nên đoàn binh Tây Tiến hành quân là chặng đường chinh phục thiên nhiên, chinh phục khó khăn và trên hết là chinh phục chính bản thân mình, để rồi lính Tây Tiến khi khúc xạ dưới lăng kính lãng mạn của Quang Dũng đã trở nên kì vĩ hơn bao giờ hết. "Súng ngửi trời" là một cách cảm nhận rất ngộ nghĩnh mang đậm chất lính. Một chút tếu táo của người lính giữa chốn đèo cao càng làm cho họ trở nên đẹp đẽ hơn, như minh chứng cho ý chí, sức mạnh phi thường và khát khao chinh phục. Thật đúng là:
Đèo cao thì mặc đèo cao
Đặc biệt câu thơ :" Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống" như bẻ đôi bởi cách ngắt nhịp 4/3 tạo thành hai vế tiểu đối giữa cao và sâu, giữa lên và xuống. Dường như câu thơ có sự chuyển động, càng đẩy ra hai phía là núi cao chất ngất lưng trời, vực sâu thăm thẳm khôn cùng để lại khoảng trống về một Tây Bắc giữ dội , huyền bí như một ẩn số đối với con người. Nhà thơ viết về Tây Bắc bằng nỗi nhớ mà lại gợi ra được cái thần, cái hồn của cảnh vật, điều đó chắc hẳn xuất phát từ một trái tim nặng nghĩa nặng tình với mảnh đất và con người nơi đây. Để lấy lại cân bằng cảm xúc cho người đọc nhà thơ đã hạ bút với câu thơ toàn thanh bằng:
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Tây Bắc được nhà thơ quan sát ở nhiều góc độ: ngước mắt nhìn lên là núi cao lưng trời, đưa mắt nhìn xuống là vực sâu hun hút, phóng xa tầm mắt trong làn sương ta có cảm giác những ngôi nhà trên đất Pha Luông đang bồng bềnh trôi giữa chốn xa khơi. Cảnh vật bỗng trở nên nửa thực nửa ảo chập chờn như trong cõi mây, chất lãng mạn như phủ kín cảnh vật, đó là sản phẩm của một họa sĩ ẩn trong tâm hồn một thi sĩ.
c. Tây Bắc huyền bí
Tây Bắc không chỉ hùng vĩ, hoang sơ mà còn rất huyền bí:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
" chiều chiều", " đêm đêm" là những từ láy chỉ thời gian có ý nghĩa chuyển giao liên tục cũng chính là liên tiếp những khó khăn chồng chất mà lính Tây Tiến phải đối mặt. Ban ngày thì lội suối lội đèo, băng rừng vượt thác, chiều về rùng mình ghê sợ trước sự trỗi dậy của thác nước, đêm xuống phải đối mặt với chim kêu vượn hú thú dữ hoành hành. Dường như trên đất Mường Hịch vẫn còn lởn vởn đâu đây dấu chân cọp dữ, và để xoa dịu đi cảm giác sợ hãi về một Tây Bắc dữ dằn là hai câu thơ nhiều thanh bằng ấm tình quân dân:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
Trong hàng trăm hàng nghìn nỗi nhớ Quang Dũng đặc biệt dành một phần trái tim mình cho mảnh đất Mai Châu khi bước vào mùa mới. Quên sao được cảm giác ấm áp tình quân dân bên các bản làng khi dừng chân ngơi nghỉ. Chẳng thế mà giọng thơ êm đềm tha thiết như khúc nhạc tâm tình gợi thương gợi nhớ như mãi vương vương một nỗi niềm. Thử hỏi xem mùi vị của nếp xôi có gì đặc biệt mà làm bôn chồn thao thức những chàng trai Tây Tiến đến vậy. Đơn giản lắm đó là hương vị được tích tụ từ những giọt mồ hôi mặn chát của con người, từ thần khí thiêng liêng của xứ xở anh hùng và đặc biệt nó chan chứa tình người cuộn thắm tình quân dân. Bởi thế mà nó theo suốt cuộc đời của những ai đã một thời sống cùng Tây Tiến. Hương nếp xôi đầu mùa như một sợi dây thiêng liêng gắn kết quá khứ - hiện tại - tương lai. Giống như Hoàng Cầm khi rời xa kinh bắc thì mang theo "lúa nếp thơm nồng", Nguyễn Đình Thi khi rời xa Hà Nội thì nhớ về mùi hương cốm mới " Gió thổi mùa thu hương cốm mới" thì Quang Dũng xa đất Mai Châu lại mang theo "hương nếp xôi"
 d, Chân dung người lính
Tiếp tục trong dòng chảy cảm xúc của Quang Dũng người đọc nhận ra giữa không gian núi rừng heo hút, giữa cái thăm thẳm của chốn đại ngàn vẫn hiện lên vẻ đẹp chân dung người lính Tây Tiến:
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời
Biết bao khó khăn gian khổ của lính Tây Tiến được Quang Dũng dồn nén vào chữ "dãi dầu" thể hiện sự từng trải, nám sạm nắng mưa dạn dày sương gió, tư thế phớt lờ, coi thường hiểm nguy coi thường cái chết. Thì ra đó là những chàng trai giàu đức hi sinh, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng chỉ như là khoảnh khắc thiếp đi vì mệt mỏi mà thôi. Nhà thơ đã thổi bừng lên ánh sáng của lí tưởng anh hùng, của khát vọng tiêu diệt kẻ thù, của đấng nam nhi với chí làm trai:
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo thái sơn nhẹ tựa hồng mao
=> đánh giá đoạn 1: đoạn thơ thể hiện bút pháp tài hoa lãng mạn, cái nhìn tinh tế tài hoa của người nghệ sĩ kết hợp với với cảm xúc yêu mến, nhớ nhung chân thành, Quang Dũng đã làm sống dậy một thời chinh chiến gian khổ giữa núi rừng hùng vĩ hoang sơ.
a. Đêm văn nghệ
Những nét vẽ gân guốc mạnh bạo, giọng thơ rắn rỏi với nhiều thanh trắc đã lùi dần nhường chỗ cho những nét vẽ tinh tế, mềm mại uyển chuyển để mở ra một thế giới mới về Tây Bắc - Tây Bắc không chỉ cheo leo hiểm trở, lắm thác nhiều ghềnh mà Tây Bắc còn rất diễm lệ có sức hấp dẫn, lôi cuốn bởi cảnh đẹp người duyên và vì thế mà những vần thơ trở nên ngọt ngào như chất men say, như chất nhạc hòa cũng cảm giác lãng mạn:
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Sau những chặng đường hành quân vất vả mệt nhọc, lính TT được ngơi nghỉ hòa mình quây quần bên bữa cơm chiều và đặc biệt là được hòa mình vào đêm văn nghệ ấm tình quân dân. Với những chi tiết tả thực kết hợp với cái nhìn lãng mạn nhà thơ đã tái hiện đêm văn nghệ nơi nẻo cao vùng núi đẹp như một câu truyện cổ tích làm say sưa lòng người. Động từ "bừng" diễn tả sự chuyển biến mau lẹ đột ngột, một sự đổi thay kì diệu: bừng lên ánh sáng làm xua tan đi bóng tối của một góc rừng, sưởi ấm không gian sưởi ấm lòng người. Quang Dũng thật khéo léo khi sử dụng từ "bừng" đem đến một luồng sinh khí mới, hơi thở nhịp đập của sự vui sống,, của niềm vui, của tình người chan chứa. Trước đây Tố Hữu cũng sử dụng từ "bừng" để đánh dấu bước ngoặt của cuộc đời khi có ánh sáng lí tưởng của Cách mạng chiếu rọi vào tâm hồn:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Còn Quang Dũng sử đụng từ "bừng" để đánh dấu sự bắt đầu của đêm liên hoan văn nghệ đậm chất thơ. Đêm văn nghệ quần chúng ấy đã trở thành đêm hội lung linh ánh sáng, sóng sánh sắc màu, rộn rã âm thanh, náo nức lòng người. Đặc biệt lửa đuốc bập bùng mang hơi thở văn hóa của đồng bào biên cương khi qua lăng kính lãng mạn của QD đã trở thành "hội đuốc hoa". "Đuốc hoa" là ngọn nến được dùng trong đêm tân hôn, lúc này ánh sáng khiến cho đêm văn nghệ nhuốm màu sắc hạnh phúc. "Kìa" là biểu hiện của sự ngạc nhiên đến ngỡ ngàng khi có sự xuất hiện của những cô gái dân tộc Thái trong xiêm y lộng lẫy, họ đã trở thành đối tượng trung tâm của đêm hội, nơi ngưng đọng ánh mắt và tâm hồn của biết bao chàng trai TT. Giọng thơ êm đềm, tha thiết đọng lại ở từ "em" nghe thật ân cần mà chan chứa tình, câu thơ như sự hóa thân của một tài năng, có sự hiện hình của chất họa, có giai điệu du dương ngọt ngào của chất nhạc, có vẻ đẹp e ấp tình tứ của con người, có cái kín đáo e lệ của thiếu nữ miền sơn cước. Giữa "man điệu"-giai điệu phương xa, con người càng trở nên duyên dáng hơn khi hòa mình vào điệu Lăm Vông đậm chất văn hóa của núi rừng. Khúc nhạc của rẻo cao núi rừng như lan ngấm thấm tràn đến miền đất của nước bạn Lào xa xôi để xây đắp lên hồn thơ QD lãng mạn, tài hoa, phóng khoáng.
=> đánh giá: chỉ với 4 câu thơ mà nhà thơ QD đã vẽ nên một bức tranh phong phú về đường nét, độc đáo về âm thanh, làm sống dậy bản sắc văn hóa của núi rừng, gợi nên vẻ đẹp tâm hồn lạc quan yêu đời của người lính, đồng thời thêm một lần nữa ta nhận ra tình quân dân thắm thiết, mặn mà. Cảm nhận về đoạn thơ này, Xuân Diệu viết:" Đọc đoạn thơ ta như được ngậm nhạc trong miệng, chẳng hiểu sao thứ nhạc ngâm nga trầm bổng của núi rừng cứ len lỏi, thấm sâu vào lòng người".
b, Sông nước Châu Mộc
Nếu như đêm văn nghệ đến với người đọc bằng niềm say mê thì cảnh sông nước Châu Mộc thì lại gợi lên cảm giác bâng khuâng, phảng phất một nỗi buồn"
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Đất Châu Mộc vào buổi chiều sương năm ấy khi đoàn binh TT đặt chân đến đã trở thành điểm hẹn của nỗi nhớ - nhớ xứ sở lắm sương nhiều khói, sương giăng mắc nơi nơi, sương phủ kín bóng người, sương như tấm áo choàng bao trùm từng con sông, ngọn suối, sườn đèo. Có lẽ sương khói của thời gian không đủ để xóa nhòa đi sương khói của Châu Mộc mà ngược lại sương khói của Châu Mộc đã cắt hình rõ rệt trong kí ức những chàng trai TT bởi: 
Kỷ niệm chẳng là gì khi lòng người vội xóa
Một loạt những từ để hỏi "có thấy", "có nhớ" cứ thế trỗi dậy như những lời tự vấn, tự hỏi chính mình, hỏi để đánh thức một vùng kỉ niệm, hỏi để dặn lòng mình chớ có quên một thời chinh chiến để thêm một lần nữa được sống cùng đồng chí đồng đội. Thì ra những gì thuộc về TT cứ mãi rạo rực, cứ dâng trào như những lớp sóng trong tâm hồn của QD.
Ấn tượng về Châu Mộc không chỉ là sương là khói mà còn là ngàn lau nở rộ trắng xóa làm lên nét đặc trưng của đất biên giới. Lau nở rộ trắng xóa cả chân trời, choáng ngợp cả tâm hồn con người, phảng phất một nỗi buồn, gieo rắc một cảm giác bâng khuâng. QD không chỉ miêu tả cảnh mà còn gợi được linh hồn của cảnh vật, điều đó chỉ có thể có được ở một người nhạy cảm biết lằng nghe từng hơi thở nhịp đập của đất trời. Chẳng thế mà giữa khung cảnh sông nước mênh mang vẫn thấp thoáng đâu đây bóng dáng của con người thật mềm mại, duyên dáng trên chiếc thuyền độc mộc. Sự xuất hiện của họ làm cho nỗi nhờ trở nên vời vợi hơn trong lòng lính TT. Phải chăng đó là bóng dáng của cô sơn nữ đã một thời chở lính TT qua sông làm nhiệm vụ hay chính là bóng dáng của người con gái mà lính TT luôn thầm thương trộm nhớ.Con người dường như đang làm duyên với cảnh, làm nên cái hồn cái thần của cảnh bởi:" cảnh đẹp đến mấy mà không xuất hiện tín hiệu của cuộc sống thì cũng là cảnh chết" để rồi đến lượt cảnh làm duyên với người trong vẻ "đong đưa" của những bông hoa dại ven suối. "Đong đưa" chứ không phải là "đung đưa" làm cho hoa như có cử chỉ duyên dáng, hoa làm duyên với người khiến bức tranh thiên nhiên thật đăng đối, hài hòa chẳng khác gì bức tranh thủy mặc dưới bàn tay của một nghệ sĩ tài hoa.
=> bốn câu thơ là một bức tranh đơn giản nhưng toàn bích, tinh tế vừa mềm mại vừa mơ mộng đắm say và đằng sau bức tranh ấy là khoảng trời riêng dành cho nỗi nhớ.
3. Hình tượng người lính TT 
Người lính cụ Hồ đã trở thành bến đậu nghệ thuật, thành điểm dừng chân khơi nguồn sức sáng tạo không bao giờ vơi cạn trong trái tim người nghệ sĩ. Vẫn còn đó hình ảnh "anh bộ đội chân không đi lùng giặc đánh" của Tố Hữu hay hình ảnh người lính "miệng cười buốt giá chân không giày" của Chính Hữu và rồi Quang Dũng đã làm nên một bài ca không bao giờ quên, nó neo đậu trong sâu thẳm người dân đất Việt mỗi khi tìm về lịch sử. QD đã tinh lọc những gì tiêu biểu nhất khái quát nhất để khắc tạc bức tượng đài bất hủ về người lính TT trong cảm hứng lãng mạn nhuốm màu sắc bi hùng bi tráng chứ không hề bi thương bi lụy. Chân dung người lính Tây Tiến được nhà thơ khắc họa bằng những nét vẽ thật gân guốc, kì lạ đến khác thường:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Thoáng đầu, qua vẻ ngoại hình"không mọc tóc" của đoàn binh TT người đọc tưởng như lính TT là những người quái đản nhưng thực ra đó lại là hậu quả của những trận sốt rét rừng khủng khiếp làm các anh rụng hết tóc.Từ sự thật nghiệt ngã ấy ta nhận ra sự khốc liệt của chiến tranh và tội ác của bọn thực dân Pháp đồng thời cũng là biểu hiện của ý chí, sức mạnh kiên cường của những chàng trai đất Hà Thành khi hàng ngày hàng giờ phải đối mặt với bệnh sốt rét rừng để giành giật lấy sự sống. Căn bệnh sốt rét rừng đã hơn một lần xuất hiện trong thơ:
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Dường như những dằn vặt khổ đau trong căn bệnh quái ác ấy được Chính Hữu và Tố Hữu nén vào ngôn từ làm vơi đi vẻ tiều tụy nhưng Quang Dũng không hề né tránh, che đậy mà ngược lại ông tái hiện một cách chân thực hiện thực trần trụi trong những năm tháng bom rơi đạn nổ. Đó là cách mà Quang Dũng làm nên sức hấp dẫn của tác phẩm bởi :" Thơ hấp dẫn người đọc bởi vị mặn mà của đời mà suy cho cùng cái vị mặn ấy chính là hiện thực của đời sống". Từ vẻ bên ngoài của lính TT ta gợi nhớ về hình ảnh quân đội nhà Trần bừng sáng hào khí Đông A "Tam quân tì hổ khí thôn ngưu". Thật vậy, cho dù rụng hết tóc đầu, cho dù da dẻ có xanh xao vàng vọt thì lính TT vẫn giữu được dáng vẻ uy nghi lẫm liệt như hùm hổ chốn rừng thiêng "dữ oai hùm".
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
"Mắt trừng" là ánh mắt chứa đựng rất nhiều cảm xúc khác nhau. Có thể đó là ánh mắt đau đáu khôn nguôi, là ánh mắt đầy căm phẫn như muốn nuốt chửng kẻ thù, cũng có thể là ánh mắt bồn chồn thao thức mà thăm thẳm suy tư nặng trĩu nỗi niềm. Nhưng đằng sau ánh mắt ấy họ vẫn mang theo một giấc mộng chiến thắng, trả lại bình yên cho đất nước và xen lẫn cả ước mơ về Hà Nội bởi đó là mảnh đất nghìn năm văn hiến hơn nữa đó còn là mảnh đất mà họ đã từng sống và gắn bó. Những ai đã từng sống và gắn bó với mảnh đất Hà Nội khi rời xa đều mang theo một nỗi nhớ, nỗi niềm. Người thì nhớ tiếng rao đêm - nét đẹp văn hóa cổ xưa, người thì nhớ lá vàng đậu trên vai người thiếu nữ, nhớ mùa thu Hà Nội, nhớ mùi thơm của hương cốm mới, còn với lính TT khi xa Hà Nội họ nhớ về "dáng kiều thơm". "Dáng kiều thơm" là cách cảm nhận rất nho nhã, lịch lãm về bóng dáng người thiếu nữ Hà thành e ấp trong tà áo dài duyên dáng thướt tha bên hồ Tây, và phải chăng đó chính là bóng hồng, bóng dáng người con gái mà lính TT đã thầm thương trộm nhớ. Sự xuất hiện của "dáng kiều thơm" làm cho nỗi nhớ trở nên vời vợi hơn, nhớ "dáng kiều thơm" không phải là những cái mộng rơi mộng rớt của trí thức tiểu tư sản mà đó là nét đẹp trong tâm hồn người lính cụ Hồ trong thời kì kháng chiến chống Pháp mà ta cũng đã bắt gặp trong thơ của Nguyễn Đình Thi:
Những đêm dài hành quân nung nấu
hay với Chính Hữu thì:
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính
Chín nỗi nhớ ấy đã tiếp thêm sức mạnh, nâng cánh cho tâm hồn người lính bay lên chiến đấu chiến thắng trở về.
Quang Dũng viết về người lính không chỉ bằng chất liệu hiện thực mà còn bằng cảm hứng lãng mạn, bằng sự lý tưởng hóa để rồi hơn một lần ta nhận ra lính TT không chỉ lãng mạn mà còn giàu đức hi sinh:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Giọng thơ bỗng nhiên trầm lắng xuống, da diết hơn, đằm sâu vào tâm hồn người đọc, cọ cứa vào nỗi đau. Nỗi đau ấy được nhà thơ dồn nén trong từ "rải rác" - khắc họa sự mất mát tan tác đau thương bởi sau những chặng đường hành quân lội suối băng rừng biết bao đồng chí đồng đội của QD đã ngã xuống, gửi thân xác mình nơi khe suối, sườn đèo. Câu thơ khắc họa một nỗi đau triền miên khôn nguôi, nỗi đau này chưa vơi, nước mắt này chưa cạn thì nỗi đau khác đã tới cọ cứa vào trái tim những con người còn sống. Một loạt từ Hán - Việt "rải rác", "biên cương", "mồ viễn xứ" được sử dụng để hình tượng hóa, bất tử hóa sự hi sinh của người lính. Có biết đâu những nấm mồ xanh cỏ nơi ải nước xa xôi hoang vu lạnh lẽo ấy đã trở thành nấm mồ tôn nghiêm mà đời đời tổ quốc ngợi ca, tôn trọng và ngưỡng vọng. Lính TT ngã xuống là biểu hiện của đức hi sinh thầm lặng, họ ngã xuống nhưng họ không mất đi mà hóa thành hồn thiêng sông núi, tồn tại muôn đời với dân tộc, chẳng thế mà Nguyễn Khoa Điềm viết:
Ôi đất nước bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy
Câu thơ gợi ta nhớ về sự hi sinh của người chính phủ, của người tử sĩ trong Chinh phụ ngâm:
Hồn sĩ tử gió ù ù thổi
Họ cũng tham gia chiến tranh, họ cũng bị thương nhưng bị lãng quên bởi chiến tranh phi nghĩa, còn với TT họ tồn tại muôn đời với dân tộc và bao thế hệ còn mãi mãi nhớ ơn. Lính TT là thế họ xếp ước mơ vào balo rồi ngủ yên trong lòng đất mẹ để hoa độc lập mãi thơm trái tự do mãi ngọt. Nhà thơ tiếp tục khắc họa sự hi sinh của người lính -những con người sẵn sàng hiến dâng cả cuộc đời và tuổi thanh xuân của mình cho non sông đất nước mà "chẳng tiếc đời xanh". Giọng thơ bỗng vút lên thể hiện tâm thế, tư thế và ý chí quyết tâm của lính TT. Họ là những người đã xếp bút nghiên nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc cho dù họ đang ở tuổi 20 lắm ước mơ và nhiều khát vọng:
Hai mươi tuổi tim đang dạt dào máu
Họ vào chiến trường để hiến dâng cho dù sương trắng rơi, máu đào rỏ, họ quyết tử cho tổ quốc quyết sinh, sẵn sàng lấy máu mình tô thắm cho màu đỏ lá cờ tự do của dân tộc. Âm hưởng của câu thơ đưa ta trở về với hào khí thời kháng chiến chống Pháp nghe vang lời hát:
Đoàn vệ quốc quân mỗi lần ra đi
Với cái nhìn lãng mạn nhuốm màu sắc bi hùng bi tráng, người lính trong thơ QD còn mang dáng dấp của tráng sĩ thời chiến quốc dứt khoát ra đi vì nghĩa lớn. Đoạn thơ khép lại một lần nữa tô đậm đức hi sinh của những chàng trai đất Hà thành, thể hiện qua âm hưởng của câu thơ:
Áo bào thay chiếu anh về đất
QD đã có lần tâm sự:"lính TT ngã xuống manh chiếu không đủ để che thân. Đồng chí đồng đội đã vào những bản làng xa xôi để xin chiếu, Khi hiểu rõ mục đích của việc dùng chiếu, già làng đã không cầm nổi nước mắt, họ cùng nhau đan những phên nứa cho các anh bó gói thi hài đồng đội". Như vậy manh chiếu, phên nứa đơn sơ khi được viết dưới ngòi bút lãng mạn của QD đã trở thành chiếc áo bào trang trọng. "áo bào" là chiếc áo chỉ dùng cho vua chúa và ở đây nó được trang trọng hóa, bất tử hóa để xoa dịu đi nỗi đau của những người còn sống, an ủi linh hồn người đã khuất, tìm lại cái bi hùng bi tráng trong sự ra đi của người lính. "Về đất" là cách nói giảm nói tránh gợi sự thanh thản, coi như các anh đã hoàn thành nghĩa vụ với đất nước - nghĩa vụ hiến dâng. Đất mẹ sinh ra các anh, đất mẹ cũng là nơi mở rộng vòng tay đón các anh trở về trong sự yêu thương. Tiễn đưa lính TT về với đất mẹ không phải những giọt nước mắt bi ai não nề của những đồng chí đồng đội mà những giọt nước mắt ấy đã lặn vào trong, đọng thành khối chôn chặt vào đáy lòng những người còn sống. Tiễn đưa người lính là tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã, như là tiếng khóc, tiếng nấc nghẹn ngào của thiên nhiên trước đức hi sinh của TT. Đức hi sinh ấy như vang thấu tận trời cao, động cả núi rừng và thấm sâu vào lòng đất mẹ để lại một lần nữa tác giả bất tử hóa hình ảnh người lính TT bởi chừng nào sông Mã còn chảy thì chừng ấy lính TT vẫn còn sống mãi, neo đậu mãi trong trái tim mỗi con người Việt Nam. Quả thật là như vậy, sông Mã chảy đến đâu mang theo một thời TT đến đó, đó cũng chính là lý do mà bài thơ TT được phổ nhạc thành bài ca đi cùng năm tháng, trường tồn mãi với muôn đời.
Có những phút làm nên lịch sử
Để rồi mỗi khi cảm nhận về bài thơ TT nhà thơ Giang Nam viết
Tây Tiến biên cương mờ lửa khói


Share
Tweet
Pin
Share
No nhận xét


Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến. Liên hệ người chiến sĩ trong Từ ấy.

Cảm nhận về vẻ đẹp hình tượng người lính Tây Tiến (Quang Dũng) trong đoạn thơ:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,
Quân xanh màu lá dữ oai hùm.
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.
Rải rác biên cương mồ viễn xứ,
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh,
Ảo bào thay chiếu anh về đất,
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
Từ đó, liên hệ vẻ đẹp lí tưởng của người chiến sĩ cộng sản trong Từ ấy (Tố Hữu) để rút ra nhận xét về cách xây dựng hình tượng chung người chiến sĩ.

HƯỚNG DẪN

I. MỞ BÀI

– Quang Dũng (1921 – 1988) là một nghệ sĩ đa tài; làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc, viết văn… nhưng trước hết ông vẫn là một nhà thơ xuất sắc của thi ca Việt Nam hiện đại, một nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Pháp, một hồn thơ phóng khoáng và tâm huyết, một tiếng thơ tinh tế và lãng mạn.
Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu nhất cho đời thơ Quang Dũng, thể hiện tập trung nét đặc sắc phong cách nghệ thuật của nhà thơ. Tây Tiến cũng là một trong những bài thơ hay nhất về đề tài người lính của thơ ca kháng chiến chống Pháp.
 – Nêu vấn đề cần nghị luận.

II. THÂN BÀI

1. Khái quát về bài thơ, vị trí đoạn thơ trongTây Tiến
– Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào và đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ở Thượng Lào và miền Tây Bắc của Tổ quốc. Địa bàn hoạt động của đơn vị Tây Tiến chủ yếu là vùng rừng núi hiểm trở. Đó cũng là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc Mường, Thái với những nét văn hoá đặc sắc. Lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên. Họ sinh hoạt và chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn, gian khổ nhưng vẫn rất lạc quan và dũng cảm.
 – Quang Dũng là một người lính trong đoàn quân Tây Tiến. Cuối năm 1948, ông chuyển sang đơn vị khác. Một năm sau ngày chia tay đoàn quân Tây Tiến, nhớ về đơn vị cũ ông viết bài thơ Tây Tiến tại làng Phù Lưu Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ, nay là Hà Nội). Bài thơ được in trong tập “Mây đầu ô”(1986)
 – Đoạn thơ thuộc đoạn thứ 3 của bài thơ, thể hiện cảm hứng nỗi nhớ về đoàn quân Tây Tiến;

2. Cảm nhận nội dung, nghệ thuật về hình tượng người lính trong đoạn thơ:

* Về nội dung:
– 4 câu đầu: Cuộc sống gian khổ, khó khăn và vẻ đẹp tâm hồn người lính
+ 2 câu đầu là bức chân dung người lính hiện lên với những nét vẽ chân thực qua hình ảnh so sánh, tương phản:
   Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
          Quân xanh màu lá dữ oai hùm.          .
++ Quang Dũng đã không né tránh việc mô tả cuộc sông gian khổ mà người lính phải chịu đựng: Hình ảnh không mọc tóc, quân xanh màu lá là hậu quả những trận sốt rét rừng, của thiếu lương thực, thiếu thuốc men… Tất cả làm mái tóc xanh của các chàng trai trẻ không còn nữa, da xanh như tàu lá.
++ Tuy vậy, cái vẻ xanh xao vì đói rét, bệnh tật ấy của người lính Tây Tiến, qua cái nhìn của Quang Dũng vẫn toát lên vẻ oai phong, dũng mãnh như những con hổ nơi rừng thiêng: dữ oai hùm. Bút pháp lãng mạn đã tạo ra cái nhìn xoáy vào bên trong khiến hình tượng người lính hiện lên ốm mà không yếu, khắc khổ mà không tiều tụy.
++ Hai chữ đoàn binh âm Hán Việt đã gợi ra một khí nghiêm trang, hùng dũng kết hợp với các thanh trắc rơi vào trọng âm đầu của câu thơ như “tiến “, “mọc tóc” khiến âm hưởng của câu thơ vút lên mạnh mẽ, làm vợi đi ấn tượng xót xa về cuộc sống khó khăn, thiếu thốn.
+ 2 câu sau là vẻ đẹp tâm hồn đậm chất hào hoa, lãng mạn của các chàng trai Tây Tiến
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.
++ Hình ảnh mắt trừng thể hiện ý chí quyết tâm của người lính Tây Tiến trong nhiệm vụ bảo vệ biên cương, thực hiện nghĩa vụ quốc tế của mình.
++ Hình ảnh Đêm mơ Hà Hội dáng kiều thơm lại là phút giây mơ mộng của tâm hồn trở về mái trường góc phố. Bên trong cái dữ dội, oai hùng của người lính là những tâm hồn, những trái tim rạo rực, khao khát yêu thương. Họ là những chàng trai ra đi khi mới mười tám, đôi mươi, chắc hẳn ai cũng ôm ấp trong tim một bóng hình. Ba chữ dáng kiều thơm gợi vẻ đẹp yêu kiều thanh lịch của các thiếu nữ Hà thành.
Quang Dũng đã tạo nên một tương phản hết sức đặc sắc – những con người chiến đấu kiên cường với ý chí sắt thép cũng chính là con người có một đời sống tâm hồn phong phú. Người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà còn rất hào hoa. Giữa bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động trong một nỗi nhớ về dáng kiều thơm, nhớ về  vẻ đẹp của Hà Nội – Thăng Long xưa.
+4 câu sau: Những hi sinh mất mát và ý chí quyết tâm của người lính
++ Quang Dũng một lần nữa nhìn thẳng vào những mất mát hi sinh mà người lính phải trải qua: Rải rác biên cương mồ viễn xứ
+++ Từ láy tượng hình rải rác diễn tả hình ảnh những nấm mồ hoang lạnh trải khắp một vùng biên cương Tổ quốc. Nếu tách riêng câu thơ ra khỏi đoạn ta dễ có cảm giác đang đượe chứng kiến một bức tranh với màu sắc xám lạnh, u uất như vọng về từ thời chinh phu tráng sĩ;
+++ Tuy nhiên, cái bi như vơi bớt đi khi tác giả sử dụng ba từ Hán Việt liên tiếp: biên cương – mồ – viễn xứ gợi không khí thiêng liêng, trang trọng, làm nhòe đi nét nghĩa đau thương mà vang về âm thanh hào hùng. Những nấm mồ hoang lạnh nơi rừng sâu biên giới bỗng trở thành những mộ chí tôn nghiêm vĩnh hằng.
+ Câu thơ tiếp theo vang lên như một lời thề.Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh. Đó cũng chính là lí tưởng quên mình, xả thân vì Tổ quốc của những chàng trai đô thành này.
+ Sự hy sinh của người lính còn được tráng lệ hoá trong câu thơ Áo bào thay chiếu anh về đất.
++ Hình ảnh áo bào thay chiếu thực chất là hiện thực thiếu thốn, gian khổ: tiễn đưa người lính về nơi vĩnh hằng không có cả một chiếc quan tài, thậm chí không cả manh chiếu che thân. Câu thơ của Quang Dũng không dừng lại ở mức tả thực mà đẩy lên thành cảm hứng tráng lệ, hai chữ “áo bào” lấy từ văn học cổ, gợi hình ảnh tấm áo choàng màu đỏ của các dũng tướng ra trận thuở xưa.
++ Nghệ thuật nói giảm, nói tránh anh về đấtgợi tư thế ung dung, thanh thản, nhẹ nhõm của người lính khi đón nhận cái chết.
+ Đoạn thơ kết thúc bằng hình ảnh dòng sông Mã gầm lên khúc độc hành. Sự hi sinh của người lính Tây Tiến còn lay động đến cả đất trời, khiến dòng sông Mã gầm lên đau đớn, tiếc thương. Trong âm hưởng hào hùng và dữ dội của thiên nhiên, sự hi sinh của người lính Tây Tiến không bi lụy mà thấm đẫm tinh thần bi tráng.
            Tây Tiến xứng đáng được xem là một tượng đài kỉ niệm bằng thi ca về đoàn quân Tây Tiến nói riêng về con người Việt Nam nói chung của một thời đại đầy gian lao mà anh dũng.

* Về nghệ thuật:
– Kết hợp hài hoà giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn.
– Ngôn ngữ giàu tính tạo hình, giàu nhạc điệu, sáng tạo khi kết hợp từ Hán Việt và thuần Việt
– Nhiều biện pháp nghệ thuật: nói giảm, đối lập…

3. Liên hệ vẻ đẹp lí tưởng của người chiến sĩ cộng sản trong Từ ấy (Tố Hữu) để rút ra nhận xét về cách xây dựng hình tượng chung người chiến sĩ.
– Về vẻ đẹp lí tưởng của người chiến sĩ cộng sản trong Từ ấy (Tố Hữu)
+ Nêu đôi nét về Tố Hữu và bài thơ Từ ấy;
+ Phân tích vẻ đẹp lí tưởng của người chiến sĩ cộng sản trong Từ ấy:
++Người chiến sĩ cộng sản có tình yêu, niềm say mê mãnh liệt với lí tưởng cộng sản. Lí tưởng chính là ánh nắng hạ rực lửa, là mặt trời chói sáng, soi rọi giúp cho nhà thơ nhận ra con đường đi đến với chân lí, lẽ phải, công bằng, niềm tin, hi vọng. Lí tưởng còn hồi sinh, chỉ đường, đem đến cảm xúc mới, sức sống mới cho nghệ thuật thơ ca của người chiến sĩ.
++ Đó là người chiến sĩ có lẽ sống nhân đạo cao đẹp. Con người ấy từ khi được giác ngộ lí tưởng, ý thức rằng cuộc sống và nghệ thuật thơ ca của mình không thuộc về cá nhân mình nữa mà thuộc về quần chúng cần lao và cuộc đấu tranh chung của dân tộc. Con người đã tự nguyện đem cái “tôi” nhỏ bé của mình gắn kết với cuộc đời để tạo nên sức mạnh đoàn kết, tranh đấu. Người chiến sĩ cũng ý thức rằng mình sẽ là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình cách mạng của những người lao khổ, bị áp bức, chiến đấu vì một lí tưởng cao đẹp.

– Nhận xét về cách xây dựng hình tượng chung người chiến sĩ.
+ Cả 2 nhà thơ Tố Hữu và Quang Dũng đều xây dựng hình tượng chung người chiến sĩ cách mạng với vẻ đẹp lí tưởng sáng ngời, cùng sử dụng bút pháp lãng mạng cách mạng để thể hiện;
+ Tuy nhiên, mỗi nhà thơ đều sáng tạo hình tượng người chiến sĩ cách mạng với vẻ đẹp độc đáo riêng. Người chiến sĩ cộng sản trong Từ ấy say mê lí tưởng Đảng, cất lên tiếng hát của một tâm hồn trẻ trong buổi đầu giác ngộ cách mạng. Tất cả đều thể hiện phong cách thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu. Người chiến sĩ trong Tây Tiến là đoàn binh hùng mạnh, can trường, tài hoa và lãng mạn khi còn sống và khi đã hi sinh. Tất cả đều thể hiện phong cách thơ trữ hồn hậu, phóng khoáng, tài hoa, lãng mạn của Quang Dũng.
+ Nguyên nhân sự khác biệt :
++ Mỗi tác giả đều mang một cảm xúc riêng khi thể hiện hình tượng người chiến sĩ
++Hoàn cảnh sáng tác: cảnh ngộ riêng và hoàn cảnh thời đại để lại dấu ấn trong cảm xúc và hình tượng người chiến sĩ của mỗi tác giả.

III. KẾT BÀI

   Kết luận về vẻ đẹp hình tượng người chiến sĩ trong thơ Quang Dũng và Tố Hữu. Cảm nghĩ của bản thân về hình tượng.



Share
Tweet
Pin
Share
No nhận xét



“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

......
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”.


(Ngữ văn 12 – tập I, tr.89)

Dàn bài chi tiết 

1. Mở bài

  • Giới thiệu vài nét về tác giả, hoàn cảnh sáng tác bài thơ
    • Tên thật: Bùi Đình Diệm (1921 - 1988), quê: Phượng Trì, Đan Phượng, Hà Tây.
    • Bài thơ được viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh (Hà Tây), khi Quang Dũng đã chuyển về đơn vị khác và nhớ về đơn vị cũ là đoàn quân Tây Tiến.
  • Dẫn dắt 14 câu thơ đầu: 14 câu thơ đầu là hình ảnh về núi rừng Tây Bắc hùng vĩ và những người lính anh dũng nhưng không kém phần tinh nghịch, hóm hỉnh.

2. Thân bài

  • Kí ức về núi rừng Tây Bắc và đơn vị chiến đấu cũ
    • Nỗi nhớ là cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ, đoạn thơ. Nỗi nhớ ấy như dâng trào không gì có thể kiểm soát được nên đã cất lên thành tiếng gọi
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
    • Từ láy “chơi vơi”: gợi hình, gợi cảm ⇒ nỗi nhớ da diết, cháy bỏng như có hình, có khối gợi lên một không gian bao la, thời gian sâu thẳm.
  • Hình ảnh núi rừng trùng điệp, hoang sơ và con đường hành quân gian khổ của người lính
    • Hình ảnh dốc, đèo, vực thẳm, rừng dày và con đường hành quân chênh vênh dần hiện ra
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
    • Những địa danh: Sài Khao, Mường Lát gợi lên không gian hoang sơ nơi xứ lạ
    • Cảm giác mệt mỏi của người lính như được xua đi bởi hình ảnh đầy thơ mộng trong đêm của Mường Lát.
    • Câu thơ “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”: tạo ra nhiều nét nghĩa khác nhau, trong đó có thể hiểu đây là cách tả cảnh đoàn quân đốt đuốc đi trong đêm mịt mù hơi sương trông như những bông hoa.
    • Thanh bằng: gợi cảm giác lâng lâng, chơi vơi, tài hoa và lãng mạn. Khung cảnh núi rừng hiểm trở
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thăm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
    • Hai câu đầu: diễn tả độ cao ngất trời vào sự chênh vênh heo hút của núi đèo Tây Bắc.
      • Từ láy tạo hình: "khúc khuỷu", "thăm thẳm", "heo hút" …được sử dụng với mật độ cao
      • Thủ pháp điệp từ, đối lập được khai thác triệt để
      • "Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm": nghe như tiếng thở nặng nhọc của người lính.
      • Heo hút cồn mây súng ngửi trời: “ngửi”, “súng ngửi trời” được sử dụng rất bạo, có tính tinh nghịch thể hiện tâm hồn lạc quan yêu đời, thách thức với gian khổ, hiểm nguy của người lính
    • Hai câu sau:
      • Câu thứ ba có sự ngắt nhịp ở giữa như bẻ đôi ⇒ diễn tả hai sườn núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng
      • Câu thơ thứ tư toàn thanh bằng ⇒ tạo cảm giác lâng lâng, chơi vơi
  • Hình ảnh người lính và kỉ niệm tình quân dân
.Hai câu thơ 
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
    • Nối tiếp mạch cảm xúc về thiên nhiên Tây Bắc và hình ảnh người lính được hiện lên rõ hơn
      • Tây Bắc dữ dội, hoang sơ, không chỉ được mở rộng ra theo chiều không gian: theo những địa danh xứ lạ như Sài Khao, Mường Lát mà còn được kéo dài theo chiều dài thời gian: chiều chiều, đêm đêm ⇒ dường như nơi đây chỉ có thác gầm và cọp thét suốt ngày đêm. 

3. Kết bài

  • Nêu tóm gọn nội dung và nghệ thuật của 14 câu thơ đầu
    • Hình ảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, đầy hiểm nguy nhưng cũng rất nên thơ
    • Hình ảnh đoàn quân trên đường hành quân mang vẻ đẹp bi tráng.
  • Gợi mở thêm vấn đề
Phân tích - bình giảng đoạn thơ
1. Trước hết, tác giả gửi về Tây Tiến nỗi nhớ rừng núi, nỗi nhớ về đơn vị cũ đến da diết “chơi vơi”
- Nỗi nhớ đã trở thành cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ, đoạn thơ bao trùm lên cả không gian và thời gian. Nỗi nhớ ấy như trào dâng cả tâm hồn đến mức không kìm nén nổi, đã cất lên thành tiếng gọi:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
Chú ý phân tích từ láy “chơi vơi” rất đặc sắc, vừa gợi cảm, vừa gợi hình: nỗi nhớ da diết, cháy bỏng như có hình, có khối gợi được một không gian bao la, thời gian như xa thẳm.
2. Hình ảnh  núi rừng trùng điệp hoang sơ mà nên thơ khỏe đẹp và con đường hành quân gian khổ của người lính
a. Nỗi nhớ “chơi vơi” trên đây đã khơi nguồn cho cảnh núi dốc, đèo cheo leo, vực thẳm, rừng dày và con đường hành quân chênh vênh bên dốc núi, trong làn sương mờ lần lượt hiện ra như một cuốn phim màu quay chậm theo bước chân người lính.
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
Những địa danh “Sài Khao”, “Mường Lát”… gợi lên không gian hoang sơ nơi xứ lạ. Câu thơ trên tả sương rất dữ dội. Câu dưới, cảm giác mệt mỏi của người lính như được xua đi bởi một hình ảnh đẹp lung linh như trong cõi mộng “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”. Câu thơ có nhiều cách hiểu, nhưng cách dễ hiểu được người đọc chấp nhận là tả cảnh đoàn người đốt đuốc đi trong đêm mịt mù hơi sương trông lung linh như  những bông hoa. Đúng là “một hình ảnh thơ mang đậm tâm hồn thi nhân”. Câu thơ được viết hầu hết là thanh bằng gợi cảm giác lâng lâng, chơi vơi, tài hoa và lãng mạn.
b. Tiếp tục cảm hứng lãng mạn ấy, khung cảnh núi rừng hiểm trở với thác lũ mưa nguồn, dữ dội, hoang sơ, heo hút, điệp trùng và độ cao ngất trời của Tây Bắc cứ sống dậy trước mắt người đọc.
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
c. Hai câu thơ đầu diễn tả độ cao ngất trời và sự chênh vênh heo hút của núi đèo Tây Bắc. Chú ý các từ láy rất giàu giá trị tạo hình được sử dụng với mật độ cao: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”… Thủ pháp điệp từ, đối lập được khai thác triệt để. Câu thơ đầu nghe như có tiếng thở nặng nhọc của người lính. Câu sau có chữ “ngửi”; “súng ngửi trời” được sử dụng rất bạo và có tính chất tinh nghịch rất “tếu” thể hiện tâm hồn lạc quan yêu đời, có cái gì đó như là thách thức với gian khổ, hiểm nguy của người lính.
d. Hai câu sau: Câu thứ ba có sự ngắt nhịp ở giữa như bẻ đôi, diễn tả hai sườn núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng.
- Câu thứ tư toàn thanh bằng, tạo cảm giác lâng lâng, chơi vơi. Có thể hình dung người lính đã nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm, đến đây như dừng chân bên dốc núi, phóng tầm mắt nhìn ngang ra xa để thấy nhà ai đó thấp thoáng ẩn hiện một không gian mịt mù sương rừng mưa núi như trôi “bồng bềnh” giữa biển khơi. Câu thơ tạo ấn tượng như thực, như ảo rất thú vị.


3. Hình ảnh người lính và kỉ niệm tình quân dân
a. Hai câu thơ tiếp theo vừa tiếp nối mạch cảm xúc về thiên nhiên Tây Bắc, vừa làm nổi rõ hình ảnh người lính:
“Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”
Tây Bắc dữ dội, hoang sơ, không chỉ được mở ra chiều không gian, theo những địa danh xứ lạ: “Sài Khao”, “Mường Lát” … mà còn được kéo dài theo chiều dài thời gian: “chiều chiều”, “đêm đêm”. Dường như nơi ấy chỉ có thác gầm cọp hú suốt ngày đêm.
b. Trên cái nền thiên nhiên kì vĩ, hoang dã ấy, nổi bật lên hình ảnh người lính “gục lên súng mũ bỏ quên đời” giữa chặng đường hành quân dãi dầu gian khổ. Câu thơ có thể hiểu theo hai nghĩa: Người lính mệt mớỉ gục lên súng mũ ngủ quên hết thày sự đời. Và cũng có thể hiểu theo nghĩa thứ hai: Người lính chết trong tư thế lên đường, tư thế hành quân. Hiểu theo cách này làm nổi bật hơn khí phách và chất bi tráng của người lính.
c. Giữa những kỉ niệm đầy hi sinh, gian khổ, 2 đoạn thơ được Quang Dũng khép lại bằng hình ảnh “cơm lên khói”, “thơm nếp xôi”, một hình ảnh bình dị ấm áp đầy tình người và ngọt ngào tình quân dân, gợi không khí gia đình của đồng bào dân tộc, đặc biệt là những cô gái xinh đẹp như những bông hoa rừng, có tấm lòng thơm thảo đón tiếp niềm nở các anh bộ đội Tây Tiến.

Mẫu 01: Phân tích 14 câu thơ đầu trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng



I. Mở bài
Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viêt văn, vẽ tranh, soạn nhạc. Nhưng trước hết ông vẫn là một nhà thơ xuất sắc của thi ca Việt Nam hiện đại, một nhà thơ trưởng thành từ cuộc sống kháng chiến chống Pháp, một hồn thơ phóng khoáng và tâm huyết, một tiếng thơ tinh tế và lãng mạn... Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ Quang Dũng, thể hiện tập trung những nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của nhà thơ. Tây Tiến cũng là một trong số những bài thơ hay nhất viết về đề tài người lính của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Cả bài thơ là nỗi nhớ da diết của Quang Dũng hướng về những kỉ niệm không thể nào quên với miền Tây và trung đoàn Tây Tiến.
II. Thân bài
Trong 14 câu đầu, nỗi nhớ của nhà thơ chủ yếu hướng về chặng đường hành quân gian nan, vất vả của đoàn quân Tây Tiếnqua vùng rừng núi miền Tây. Thông qua những kỉ niệm với thiên nhiên, con người, Quang Dũng đã khắc họa vẻ đẹp hào hoa, hào hùng của con người chiến binh Tây Tiến. Câu thơ đầu chia thành hai vế trong nhịp ngắt 4 - 3:
\"Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!\"
Sông Mã là dòng sông chảy dọc theo địa bàn biên giới Việt - Lào của các tỉnh Mộc Châu, Sầm Nưa, Mai Châu, Quan Hóa... Đây là dòng sông nhiều ghềnh thác đổ dốc dữ dội, một mình băng băng giữa núi rừng hùng vĩ, hai bên bờ sông còn rải rác mồ của các chiến sĩ Tây Tiến. Vì thế, sông Mã là một cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, là hình ảnh của thiên nhiên miền Tây; nhưng dòng sông Mã còn là dòng sông gắn liền với chặng đường hành quân của trung đòan, từng chia sẻ và chứng kiến những buồn vui, những mất mát, hi sinh, từng \"gầm lên khúc độc hành\" tiễn đưa tử sĩ... Sông Mã đựng đầy kỉ niệm về trung đoàn Tây Tiến năm xưa. Hành hương trở về quá khứ, Quang Dũng đã nhắc tới sông Mã như một biểu tượng đầu tiên của nỗi nhớ
Bài thơ được viết khi Quang Dũng đang ở Phù Lưu Chanh, xa trung đoàn, xa đồng đội, xa núi rừng miền Tây và dòng sông Mã thân yêu. Nhịp ngắt 4 - 3 tạo cảm giác như có một phút ngừng lặng để cảm nhận sự trống trải, mênh mông trong thực tại bởi\"sông Mã xa rồi...\", để sau đó, hiện thực mờ đi, nỗi nhớ ùa vào trong tiếng gọi tha thiết hướng về quá khứ: \"Tây Tiến ơi!\".Tiếng gọi ấy không dừng lại trong câu thơ đầu mà như để ngân nga nỗi tiếp trong vần \"ơi\" của từ láy \"chơi vơi\" trong câu thứ hai. Phép điệp vần tinh tế khiến tiếng gọi như âm vang, đập vào vách đá, dội lại lòng người, da diết, bâng khuâng... Sau tiếng gọi ấy, nỗi nhớ ào ạt, trào dâng trong câu thơ tiếp theo:
\"Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi!\"
Từ \"nhớ\" điệp lại ở đầu hai vế câu diễn tả một nỗi nhớ day dứt, ám ảnh, không thể nguôi ngoai. Vế đầu của câu thơ xác định đối tượng của nỗi nhớ: \"nhớ về rừng núi\". Đó là không gian mênh mông của miền Tây với những địa danh như Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông... những địa danh vừa gợi lên kỉ niệm về con đường hành quân gian truân, vất vả, vừa gây ấn tượng mạnh mẽ về miền đất heo hút, hoang sơ...
Và vì thế, nỗi nhớ không chỉ dừng lại ở \"rừng núi\", nỗi nhớ còn hướng về những năm tháng quá khứ đầy kỉ niệm và những đồng đội thân yêu nay kẻ còn người mất.
Vế sau của câu thơ dành để miêu tả sắc thái của nỗi nhớ. \"Chơi vơi\" là từ láy vần gợi đọ cao phiêu du, bay bổng, là từ láy thật phù hợp để miêu tả nỗi nhớ hướng về vùng núi cao miền Tây. Hơn nữa, từ láy \"chơi vơi\" còn gợi cảm giác về nỗi nhớ da diết, mơ hồ, đầy ám ảnh, một nỗi nhớ lơ lửng ăm ắp khôn nguôi. Có thể thấy hai câu thơ đầu đã thể hiện cảm hứng chủ đạo của đoạn thơ, cũng là của bài thơ, đó là nỗi nhớ tha thiết của người cựu chiến binh miền Tây hướng về miền Tây, về trung đòan Tây Tiến, về những năm tháng quá khứ không thể nào quên.
a. Kí ức về miền Tây
Thông qua những nét vẽ thật tài hoa, vừa chân thực, vừa thấm đẫm chất lãng mạn, Quang Dũng đã làm hiện lên bức tranh của thiên nhiên miền Tây heo hút, hiểm trở nhưng vô cùng hùng vĩ, thơ mộng và xiết bao kì thú. Nét đặc sắc đầu tiên của thiên nhiên miền Tây trong kí ức của Quang Dũng chính là màn sương rừng mờ ảo: sương phủ dày ở Sài Khao, sương bồng bềnh ở Mường Lát... Đó không chỉ là màn sương của thiên nhiên mà còn là màn sương mờ của kỉ niệm, của nỗi nhớ nhung:
\"Sài Khao sương lấp đòan quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi\"
Bút pháp hiện thực trong câu thơ trên đã miêu tả một đoàn quân dãi dầu, mệt mỏi, thấp thoáng ẩn hiện trong sương. Nhịp ngắt 4 - 3 khiến trọng tâm câu thơ rơi và chữ \"lấp\" - một động từ có sức gợi tả; màn sương rừng miền Tây mênh mông, dày đặc, che kín của một \"đòan quân\", trùm phủ, khuất mờ rừng núi khiến con đường hành quân của chiễn sĩ thêm vất vả, gian lao. Tới câu thơ sau, hiện thực khắc nghiệt đã được thi vị hóa bởi cảm hứng lãng mạn: đêm sương trở thành \"đêm hơi\" bồng bềnh; những ngọn đuối soi đường di chuyển dọc theo con đường chiến sĩ hành quân được nhìn thành những đóa \"hoa\" chập chờn, lung linh, huyền ảo...Những thanh bằng nhẹ bỗng trong câu thơ càng làm đậm thêm sự hư ảo của màn sương rừng. Sự khắc nghiệt của thiên nhiên đã được cảm nhận một cách thi vị bởi những tâm hồn lãng mạn, hào hoa.
Nhớ đến miền Tây, không thể nào quên được sự hiểm trở và hùng vĩ vô cùng của dốc núi. Ba câu thơ tiếp theo đã miêu tả thật sắc nét khung cảnh thiên nhiên hùng vũ và hiểm trở ấy, qua đó làm hiện lên cuộc hành quân gian lao, vất vả, ý chí bất khuất, kiên cường, tinh thần lạc quan, yêu đời của người lính Tây Tiến. Câu thơ thứ nhất tập trực tiếp miêu tả dốc núi miền Tây trập trùng, hiểm trở:

\" Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm\"
Sự phối hợp dày đặc của năm thanh trắc đã tạo ra âm hưởng gập ghềnh cho một câu thơ bảy chữ khiến người đọc có thể hình dung ra phần nào cuộc hành quân gian truân, vất vả vô cùng của chiến sĩ Tây Tiến trong một địa hình mà sự hiểm trở được gợi ra ngay trong nhạc điệu của câu thơ. Câu thơ ngắt nhịp 4 - 3, từ \"dốc\" điệp lại ở đầu hai vế câu thơ đã thể hiện sự trùng điệp, chồng chất, nối tiếp như tới vô tận của những con dốc, cũng phần nào gợi lên nỗi nhọc nhằn của người lính trên đường hành quân: con dốc này chưa qua, con dốc khác lại đợi sẵn, núi rừng miền Tây như muốn thử thách ý chí, nghị lực của các anh.
Sự hiểm trở của dốc núi miền Tây cũng hiện ra trong ý nghĩa tạo hình và biểu cảm của những từ láy \"khúc khuỷu\" và\"thăm thẳm\". \"Khúc khuỷu\" miêu tả sự gồ ghề, gập ghềnh của dốc núi ngay dưới chân chiến sĩ. Còn từ láy \"thăm thẳm\"lại gợi độ cao hun hút, độ xa vời khi đưa mắt nhìn tiếp con đường hành quân vẫn cheo leo, ngút ngàn như khôn cùng. Con đường lên miền Tây quả là \"khó như đi lên trời xanh\".
Dốc núi miền Tây còn được gợi tả gián tiếp trong câu thơ sau với việc tô đậm ấn tượng về một độ cao chót vót:
\"Heo hút cồn mây súng ngửi trời\"
Từ láy \"heo hút\" vừa gợi cao, vừa gợi xa, vừa gợi vắng được đảo lên đầu câu như để nhấn mạnh sự hoang sơ, xa vắng, thăm thẳng như vô tận của dốc núi miền Tây trong cảm nhận của chiến sĩ Tây Tiến - những chàng trai đến từ thủ đô hoa lệ. Còn \"cồn mây\" lại là một ẩn dụ đặc sắc cho thấy mây núi miền Tây bồn bề, chồng chất, dựng lên thành dốc, thành cồn; từ đó câu thơ gián tiếp cho thấy dốc núi miền Tây cao đến mứa con đường như lấn vào mây, mây bao phủ đường lối, mây mờ mịt trập trùng, mây khiến con đường hành quân của chiến sĩ càng thêm cheo leo, hiểm trở, hoang vu. Vế sau của câu thơ cũng tiếp tục gợi tả độ cao của dốc núi khi người lính như đi trong mây, mũi súng như chạm tới đỉnh trời. Đó là một cảm nhận có thực của thị giác khi những người lính hành quân trên dốc núi miền Tây, địa hình heo hút, hiểm trở, làm tăng thêm những vất vả, gian truân cho người lính. Nhưng bằng cách nói tếu táo, hóm hỉnh đầy chất lính trong hình ảnh nhân hóa \"súng ngửi trời\", Quang Dũng đã cho thấy tâm hồn trẻ trung của những người lính phong trần coi thường gian lao, vất vả. Có nhà thơ đã cho rằng hình ảnh \"súng ngửi trời\" là \"trung tâm hùng tráng của bức tranh hiểm trở, bởi ở chỗ cao ấy, có con người\". Và do vậy, câu thơ không chỉ gợi lên sự hiểm trở của dốc núi, sự tươi trẻ, lạc quan của chiến sĩ Tây Tiến, tứ thơ còn khiến các anh hiện ra trong dáng vẻ ngang tàng, kiêu dũng của những chàng trai chinh phục độ cao.
Dốc núi lại tiếp tục được miêu tả trong một nét vẽ sắc sảo và gân guốc:
\"Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống\"
Điệp ngữ \"ngàn thước\" là một ước lệ nghệ thuật có tính định lượng, khắc họa vẻ đẹp hùng vĩ, chênh vênh, kì thú của núi rừng miền Tây. Yếu tố tương đồng của điệp ngữ \"ngàn thước\" và tính chất tương phản của các động từ \"lên - xuống\"trong hai vế câu đã tạo ra cảm giác về một nét gập đột ngột, dữ dội cho câu thơ, cũng là cách để nhà thơ gợi tả thật tài hoa độ của của dốc, độ sâu của vực: bên này đường lên núi dựng đứng, vút cao; bên kia vực đổ xuống hun hút, hiểm trở.
Trong cả ba câu thơ đặc bịêt giàu tính tạo hình và biểu cảm, dốc núi miền Tây được miêu tả hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp nhưng đều khắc họa được đồng thời cả sự hiểm trở lẫn vẻ đẹp hùng vĩ, kì thú. Thông qua bức tranh thiên nhiên, có thể thấy vẻ đẹp tâm hồn của những người lính Tây Tiến: họ lạc quan, mạnh mẽ, coi thường mọi gian truân, vất vả; những thử thách của thiên nhiên chỉ càng làm rõ hơn ý chí, sức mạnh, tâm hồn trẻ trung và tư chất nghệ sĩ của họ.
Sau những câu thơ hun hút, nhọc nhằn miêu tả dốc núi, câu thơ tả mưa miên man trong bảy thanh bằng, cùng với rất nhiều âm tiết mở; câu thơ đã gợi tả một không gian mênh mang, dàn trải, nhạt nhòa trong mưa:
\"Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi\"
Hình ảnh \"mưa xa khơi\" có thể coi là một ẩn dụ cho thấy cả thung lũng mờ mịt như loãng tan trong miền mưa, không gian bỗng như mênh mang, xa vời hơn... Sau những chặng đường hành quân gian khổ, người lính như đang dừng chân đâu đó, đưa mắt nhìn cả núi rừng chìm trong mưa. Ánh mắt những người lính xa nhà bâng khuâng hướng tới những ngôi nhà bồng bềnh, thấp thoáng, ẩn hiện trong màn mưa hư ảo... Sắc thái phiếm chỉ khiến cụm từ \"nhà ai\" trở nên mơ hồ, xa xăm. Sắc thái nghi vấn lại gợi nỗi trăn trở trong lòng người. Cả câu thơ chỉ có duy nhất tiếng \"nhà\" mang thanh huyền như một thoáng trầm lắng, suy tư để rồi sau đó, tất cả những thanh không chơi vơi trong nỗi nhớ. Giữa mưa rừng buốt lạnh, giữa núi rừng mênh mông, hình ảnh ngôi nhà gợi cảm giác ấm áp, nhớ nhung dễ làm xao xuyến lòng người xa quê.
Núi rừng miền Tây tiếp tục được miêu tả trong những nét vẽ đầy ấn tượng:
\"Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người\"
\"Thác gầm thét\" và \"cọp trêu người\" là hai hình ảnh nhân hóa thể hiện sự dữ dội, hoang sơ đầy bí hiểm của núi rừng miền Tây. Bút pháp đối lập của cảm hứng lãngmạn được sử dụng trong phép đối thanh rất tinh tế ở hai câu thơ này. Nếu câu trên có các tiếng \"thác\", \"thét\" mang thanh trắc ở âm vực cao thì câu dưới là các tiếng \"Hịch\", \"cọp\" cũng mang thanh trắc nhưng lại thuộc âm vực thấp. Và có thể thấy những dấu sắc trong câu trên như gợi âm thanh của tiếng thác nước man dại ở vòm cao thăm thẳm; những dấu nặng liên tiếp trong câu thơ dưới lại như một phỏng tiếng bước chân nặng nề của thú dữ, gợi ra cái thâm u, bí ẩn đầy đe dọa ở vòm tối thấp của núi rừng.
\"Chiều chiều\" và \"đêm đêm\" là những trạng ngữ chỉ dòng thời gian tuần hòan, miên viễn, vĩnh hằng. Những sức mạnh thiên nhiên khủng khiếp đã ngự trị núi rừng miền Tây không phải một chiều, một đêm mà là \"chiều chiều - đêm đêm\" - sự ngự trị muôn đời! Nhưng cũng chính điều này lại càng khiến chân dung người chiến sĩ Tây Tiến thêm hào hùng, mạnh mẽ: họ đã hành quân qua những vùng đất hoang sơ, dữ dội, vắng bóng con người, những vùng đất tưởng như chỉ là vương quốc riêng của heo hút mây trời, của rừng thiêng nước độc; vùng đất ấy nay đã in dấu chân của những người chiến sĩ kiên cường, dũng cảm trong đoàn quân Tây Tiến.
b. Kí ức về người lính Tây Tiến trên đường hành quân
Sự vất vả, gian truân cũng như vẻ đẹp trong tâm hồn người lính Tây Tiến đã ít nhiều thể hiện trong những câu thơ miêu tả cảnh thiên nhiên miền Tây và hành trình qua miền Tây, ngòai ra còn có những câu thơ trực tiếp miêu tả hình ảnh người lính cũng như những kỉ niệm của họ trong chặng đường hành quân. Trước hết là một kí ức sâu đậm của Quang Dũng về hình ảnh một người chiến sĩ Tây Tiến trên đường hành quân:
\"Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!\"
Từ láy \"dãi dầu\" đã thể hiện tòan bộ những vất vả, nhọc nhằn của các anh khi hành quân qua miền Tây, khi vượt qua những núi cao, vực sâu, thác ghềnh dữ dội, vượt qua những nắng mưa, sương gió miền Tây . . . Hai câu thơ tựa nhưa một bức kí họa đầy ấn tượng về người lính Tây Tiến. Có thể hiểu đây là hình ảnh người lính phong trần buông mình vào giấc ngủ hiếm hoi trong phút dừng chân, một giấc ngủ mệt nhọc nhưng vô tư, trẻ trung. Cũng có thể hiểu đây là câu thơ miêu tả một thực tế đau xót trên chiến trường khi người lính kiệt sức gục ngã không thể bước tiếp cùng đồng đội. Tuy nhiên có thể thấy người lính gục xuống khi đang đi giữa hàng quân nhưng \"súng mũ\" vẫn bên mình. Như vậy là dù không vượt qua được khó khăn nhưng các anh cũng không thóai lui, chùn bước, không đầu hàng khó khăn, không rời bỏ đội ngũ. Và nhất là với cách diễn đạt chủ động trong hai cụm từ \"không bước nữa\" và \"bỏ quên đời\", Quang Dũng đã làm hiện lên sự kiêu bạt, ngang tàng của những chiến binh dãi dầu mưa nắng. Hiện thực khắc nghiệt của chiến tranh đã được Quang Dũng biểu hiện bằng cách nói thật lãng mạn góp phần tô đậm vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến, qua đó nhà thơ đã làm hiện lên không phải khó khăn mà là tinh thần dũng cảm vượt lên trên khó khăn của những người chiến sĩ, kiên cường đối diện với mọi gian truân, thử thách.
Con đường hành quân của chiến sĩ Tây Tiến không chỉ có gian truân thử thách,vất vả mà còn có cả những kỉ niệm ngọt ngào, thắm thiết ân tình; miền Tây không chỉ có núi cao rừng sâu, mà còn có những bản làng nên thơ mới khói lam chiều ấm áp quyện bên sườn núi, có hương thơm quyến rũ của xôi nếp nương và nhất là có những sơn nữ tình tứ và xinh đẹp:
\"Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi\"
Hai câu thơ là những cụm từ ngũ đã được xóa bỏ các yếu tố kết nối để thành một tập hợp những ấn tượng sâu đậm còn lại trong tiềm thức,trong nỗi nhớ của thi nhân. Đó là những ấn tượng của thị giác, thính giác, khứu giác và xúc giác về cảnh và tình miền Tây. Mở đầu bằng cụm từ \"nhớ ôi\", câu thơ đã bộc lộ cảm xúc nhớ nhung dâng trào mãnh liệt. Sau những chặng đường hành quân giữa mưa rừng buốt lạnh, giữa núi cao vực sâu, giữa những tiếng chân thú rừng rình rập đầy đe dọa..., phút dừng chân bên một bản làng miền Tây với bát cơm nếp mới thơm ngào ngạt, cùng làn khói bếp ấm áp mỏng manh vương vấn đã đem đến cho các chiến sĩ cảm giác thanh bình thật hiếm hoi, quí giá trong chiến tranh. Giống như âm thanh tiếng gà trưa trên đường hành quân cảu anh chiến sĩ trong bài thơ của Xuân Quỳnh, hương thơm bát xôi nếp đầu mùa ở Mai Châu sẽ mãi là một kỉ niệm khó quên về tình quân dân ấm áp trong đời người lính.
Câu thơ \"Mai Châu mùa em thơm nếp xôi\" gợi ra nhiều cách hiểu. Có thể hiểu các chiến sĩ Tây Tiến dừng chân ở Mai Châu giữa mùa lúa chín, đón nhận bát xôi ngào ngạt hương nếp đầu mùa từ bàn tay dịu dàng của cô gái miền Tây. Cũng có thể hiểu những câu thơ theo một nét nghĩa lãng mạn từ hai chữ \"mùa em\". Người ta thường chỉ nói về mùa hoa, mùa quả...đó là thời điểm căng tràn, sung mãn, đầy ắp sắc hương của hoa trái... Quang Dũng đã tạo ra một nét nghĩa mới mẻ, táo bạo và thật đa tình trong tập hợp \"mùa em\" khiến cho Mai Châu không chỉ là một địa danh gắn với kỉ niệm thơm thải của xôi nếp đầu mùa, của tình yêu quân dân sâu nặng; Mai Châu còn gợi nhớ tới hình ảnh những cô gái miền Tây duyên dáng. Có người lính nào quên được giây phút dừng chân ở Mai Châu, khi nồng ấm xung quanh các anh là dân làng, là các sơn nữ sóng sánh ánh mắt, rạng ngời nụ cười, nồng nàn hương sắc...Những thanh bằng trong câu thơ đã gợi tả tình tế cảm giác bồng bềnh, xao xuyến tới ngất ngây, đê mê trong tâm hồn những chàng trai Hà Thành hào hoa, lãng mạn.
III. Kết bài
Với sự kết hợp uyển chuyển giữa bút pháp hiện thực và cảm hứng lãng mạn, giữa chất họa và chất nhạc, 14 câu thơ đầu trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng đã tái hiện sinh động và gợi cảm về vùng đất miền Tây hiểm trở, khắc nghịêt mà thơ mộng, kì thú gắn liền với chặng đường hành quân của trung đoàn Tây Tiến. Qua những kỉ niệm hiện lên trong nỗi nhớ da diết về quá khứ, Quang Dũng đã thể hiện chân thức bức chân dung của những người lính Tây Tiến kiêu dũng và hào hoa, góp phần làm đậm thêm cảm hứng chủ đạo cho bài thơ.


Mẫu 02: Phân tích 14 câu thơ đầu bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Cùng năm 1948, có rất nhiều nhà thơ nhà văn đã sáng tác về hình tượng người lính trong thời đại chống Pháp như: “Đồng chí” – Chính Hữu, “Bên kia sông Đuống” – Hoàng Cầm, đoạn đầu bài thơ “Đất Nước” – Nguyễn Đình Thi, “Đôi mắt” – Nam Cao. Trong đó nổi bật và tiêu biểu hơn cả là bài thơ Tây tiến của nhà thơ Quang Dũng. Với 14 câu đầu Quang Dũng thể hiện rõ nỗi nhớ và chặng đường hành quân qua vùng đất Tây Bắc của đoàn quân Tây Tiến.

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”


Mở đầu bài thơ là hình ảnh con sông Mã, một địa danh thuộc tỉnh Thanh Hóa , gắn liền với những kỉ niệm , những chặng đường hành quân của những lính Tây Tiến nhưng giờ đã “xa rồi”. Từ “xa rồi” thể hiện khoảng cách về không gian mỗi lúc một xa. “Tây Tiến ơi” cùng với dấu chấm than, đó là tiếng gọi tha thiết, da diết, tác giả gọi về đoàn quân Tây Tiến mà như gọi chính người bạn thân của mình. Đó chính là tiếng lòng.

Điệp từ “nhớ” xuất hiện hai lần, đó chính là nỗi nhớ về rừng, về núi với một nỗi “nhớ chơi vơi”, tác giả không dùng nhớ tha thiết, da diết , thân thương , nao lòng, cháy lòng,…mà dùng “nhớ chơi vơi”. Từ “chơi vơi” là một từ láy diễn đạt sự lưng chừng, bềnh bồng, lơ lửng, khó xác định. Điều đó rất phù hợp với không gian ở nơi đây vì lúc nào nơi đây cũng chìm ngập trong mây trời, sương khói.

Tác giả đưa hai địa danh: “Sài Khao” “Mường Lát” vào trong bài thơ nhằm làm tăng sự xa lạ “vẻ núi rừng” cho câu thơ. Hai địa danh này rất gần gũi với người dân nơi đây nhưng lại hoàn toàn xa lạ đối với đoàn quân Tây Tiến. Quang Dũng đưa vào trong câu thơ nhằm giới thiệu cho mọi người biết về vùng đất xa lạ của Tổ quốc, nơi mà những người lính Tây Tiến hành quân đi qua, từng sống và chiến đấu.

Ở Sài Khao sương dày đặc, che lấp con đường hành quân khiến đoàn quân Tây Tiến hành quân rất mỏi mệt và gian lao.

Ở Mường Lát có “hoa về” trong đêm lạnh. Điều này làm tăng lên vẻ đẹp lãng mạn – một trong những nét đặc trưng của văn học lãng mạn. Hình ảnh bông hoa đó còn tượng trưng cho đoàn quân Tây Tiến về để giải phóng Mường Lát. Đồng thời đó cũng là niềm vui như hoa của người dân Mường Lát khi đón chào đoàn quân Tây Tiến về giải phóng quê hương của họ.

Từ “dốc” được điệp hai lần nó cho ta thấy con đường hành quân hết con dốc này lại nối tiếp đến con dốc kiamaf con dốc sau còn cao và nguy hiểm hơn con dốc trước. tác giả sử dụng hai từ láy tượng hình “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” vẽ ra một con đường hành quân đầy quanh co và khi leo lên con dốc cao nhìn xuống là một dộ sâu thăm thẳm. Câu thơ sử dụng 5/7 thanh trắc càng làm tăng thêm sự gập gềnh , trúc trắc của con đường hành quân đầy gian khó.

Khi leo lên những con dốc cai mà ở đó súng của những người lính có hể “ngửi trời”. tác giả không dùng súng đụng trời hay súng chạm trời mà sử dụng nghệ thuật nhân hóa làm người đọc hình dung sự tinh nghịch, mang đậm chất lính của Quang Dũng đồng thời làm người đọc nhớ đến câu thơ rất hay của Chính Hữu trong bài Đồng Chí “Đầu súng trăng treo”.

Điệp từ “ngàn thước” cùng với nghệ thuật đối lập “lên – xuống”, tác giả đã vẽ lên những con dốc cao và dựng đứng như mái nhà, lên ngàn thước, xuống cũng ngàn thước. Đó chính là cách nói ước lệ để chỉ sự nguy hiểm của con đường hành quân. Khi đi lên dốc, người đi sau chỉ nhìn thấy lưng và chân của người đi trước, chỉ cần người đi trước sơ sẩy thì người đi sau gặp nguy hiểm. Lên đã khó xuống dốc còn khó vfa nguy hiểm hơn. Sau những chặng đường hành quân gian lao, nguy hiểm trước mắt người lính Tây Tiến líc này là một ngôi nhà của ai đó ở Pha Luông đang chìm lấp trong màn mưa nơi xa khơi. Nơi đó có thể là nơi dừng chân lí tưởng để những người lính nghỉ ngơi, lấy lại sức để tiếp tục cho những chặng đường nguy hiểm, gian lao đang chờ họ.

Con đường hành quân gian khó, khiến những người lính phải “dãi dầu”, “không bước nữa”. Họ đã gục đầu lên súng để ngủ, để “bỏ quên đời”. Quang Dũng không nói đường hành quân gian lao, vất vả khiến những người lính phải hi sinh, mà ông dùng cách nói giảm nói tránh. Ông xem cái chết “nhẹ tựa lông hồng” xem cái chết như một giấc ngủ.


Cứ chiều tối, đêm về thiên nhiên ở đây càng trở nên hung dữ, đầy khiếp sợ, lúc nào cũng như muốn đe dọa , rình rập con người. “Thác gầm thét”như một con thú dữ, như đe dọa , “cọp trêu người”. Từ “trêu” có nghĩa là chọc ghẹo nhưng cọp chỉ có rình , vồ, chộp người chứ không hề biết chọc ghẹo hay trêu người. Từ trêu ở đây thể hiện sự hài hước, tinh nghịch, lạc quan của người lính. Ta hình dung một nụ cười  thoáng hiện trên môi của những người lính trẻ trước sự gian lao, nhọc nhằn.

Nhớ về đoàn quân Tây Tiến là nhớ đến những bữa cơm lên khói, ấm áp, đậm nghĩa tình quân dân. Tác giả dùng từ “mùa em” rất độc đáo vì ta thường nghe nói mùa nắng, mùa mưa,… chứ chưa nghe “mùa em” . “Mùa em” ở đây là mùa đặc trưng của em, nó ,àn những dấu ấn, kỉ niệm về em, nhữn người em đã dành tình cảm, sự chăm sóc của mình đối với những ngừi lính Tây Tiến để rồi khi xa họ luôn nhớ về “mùa em”. Nó giống như nhà thơ Chế  Lan Viên đã từng nói trong bài “Tiếng hát con tàu”:

“Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch
Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng
Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch

Bữa xôi đầu còn toả nhớ mùi hương”.

Tóm lại, chỉ với 14 câu thơ đầu, bài thơ Tây Tiến đã để lại dấu ấn hết sức ấn tượng trong lòng độc giả. Những gian khổ, hi của những người lính là những kỉ niệm không bao giờ có thể quên được. Với bút pháp vừa hiện thực kết hợp với lãng mạn, Quang Dũng đã diễn tả tài tình nỗi nhớ , nỗi gian truân trên con đường cũng những người lính anh dũng, sự phấn đấu,cả những  hi sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì cuộc sống ấm no hạnh phúc của dân tộc Việt Nam ta. Nhưng ở họ vẫn ánh lên nét trẻ trung, niềm tin và kiêu hãnh.



Share
Tweet
Pin
Share
No nhận xét
Older Posts

Follow Us

Labels

DESIGN Học cách yêu MUSIC NGỮ VĂN TOÁN HỌC TOIEC TOIECluyenthi TRUYỆN
Được tạo bởi Blogger.

LATEST POSTS

  • Nghịch lý Zeno - Achilles và con rùa
    Tiếp tục như vậy, để chạy hết quãng đường A n-1 A n  = 1/100 n-2  (km),  Achilles  phải mất  thời gian t n =  1/100 n-1  (h). Vậy tổng thời...
  • [ NGỮ VĂN ] Phân tích 14 câu thơ đầu trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
    “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! ...... Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”. ( Ngữ văn 12  – tập I, tr.89) Dàn bài chi ti...
  • [ WEB ] Chèn bình luận FACEBOOK vào WEBSITE
    Bước 1 : Truy cập link: https://developers.facebook.com/docs/plugins/comments Bước 2: Sao chép và dán đoạn mã U...
  • [ NGỮ VĂN ] Phân tích bài thơ Tây Tiến
    Phân tích bài thơ Tây Tiến I. Tác giả, tác phẩm Tác giả Quang Dũng II. Tìm hiểu và phân tích tác phẩm A. Cảm nhận chung...
  • Nhật ký tôi
     Ngày 14/9/2020 Tâm hồn trống rỗng Vì bản thân quá yếu đuối hay sao, vì sao vì sao hôm nay lại như vậy, cảm giác trống rỗng như vậy, cô đơn...
  • [ HƯƠNG MẬT TỰA KHÓI SƯƠNG ] Chương 6
    Phật tổ gia gia từng nói: "Nhất niệm tham dục khởi, bách vạn chướng môn khai"(*). Nhân sinh nhất định phải trải qua ha...
  • [ HƯƠNG MẬT TỰA KHÓI SƯƠNG ] Chương 9
    Ở dưới phàm thế, diễn viên hát tuồng Côn Sơn cất giọng lanh lảnh: "Lưu quang dung dịch bả nhân phao, hồng liễu anh đào, lục liễu ...
  • [ HƯƠNG MẬT TỰA KHÓI SƯƠNG ] Chương 13
    Lần này, Phượng Hoàng bay có thể coi như là vững vàng, không khiến ta lăn lộn tùng phèo trong tay áo hắn như lần trước, chỉ có điều l...
  • [ HƯƠNG MẬT TỰA KHÓI SƯƠNG ] Chương 10
    Mấy ngày gần đây, tâm tình Phượng Hoàng dường như không được vui vẻ, đặc biệt là mỗi lần nhìn thấy ta, nhãn thần rõ ràng hiện lên hai c...
  • [ HƯƠNG MẬT TỰA KHÓI SƯƠNG ] Chương 2: Trái cây tới từ ngoài trời
    "Một niệm lòng tham trỗi dậy, trăm ngàn chướng ngại tới." ***** Một buổi tối thanh vắng tĩnh lặng thế này ...

Created with by BeautyTemplates